1. Cọ ỏm
Khi gió heo may bắt đầu “quấn quýt” bên những sườn đồi cũng là lúc quả cọ chín già. Bọn trẻ chăn trâu thường mang những cù lèo đi hái quả, thứ quả mang vị bùi, chát được lắng đọng qua mưa, nắng và gió trung du.
Có lẽ không nơi nào nhiều cọ như Phú Thọ… người Phú Thọ gắn bó với cây cọ từ mái nhà lá cọ, cái mành cọ làm mát mùa hè cho đến món xôi cọ dân dã mà đậm đà hồn quê đất cọ.
Với mảnh đất này, cọ là người bạn thân. Lá cọ dùng để lợp mái nhà tước lấy gân lá để bán, cuống lá dùng để chẻ nan dệt mành, hoặc thân cây cọ già có thể làm các đồ thủ công mỹ nghệ. Đặc biệt, quả cọ có vị bùi, ngậy là món ăn hấp dẫn với nhiều khách du lịch mỗi khi đặt chân đến mảnh đất này.
Cọ dùng để ỏm là loại cọ nếp tròn căng, nâu bóng mỡ màng như một lớp áo lụa thiên nhiên, nhìn đã thấy thích mắt. Những trái cọ được bứt ra, rửa qua nước cho sạch. Dùng một dúm nứa vụn rắc nhẹ và đều tay lên rá cọ (chỉ dùng phần cật nứa). Sau đó xóc đều rá cọ nhẹ tay như người đãi gạo hồi lâu tìm sạn. Lớp vỏ lụa đen nâu, mỏng tang bao bọc trái cọ đã bị cật nứa sắc lẹm cứa gọn ngọt, thay vào đó là lớp cùi hồng hồng. Đây là một công đoạn khá quan trọng bởi lẽ chất chát đắng của quả cọ nằm ở lớp vỏ lụa này. Dùng nước nóng (70-80 độ C) để om cọ, nước ỏm quả cọ phải được đun bằng nước giếng khơi hay nước nguồn, khi nước nóng già nổi bọt lăn tăn, bám đầy xoong là lúc cho quả cọ vào… Khoảng mươi, mười lăm phút sau cọ chín, hương cọ tỏa ra ngào ngạt cả góc bếp… Ỏm được một mẻ cọ ngon là phải khéo léo, kì công lắm. Quả cọ khi đã ỏm có màu nâu sậm, lúc ỏm xong váng nổi như váng mỡ bám quanh nồi, bóp vào mà quả thấy mềm, cho màu vàng ươm đườm đượm là ngon nhất.
Người ăn cọ sành là người biết chọn cho mình những quả cọ tròn, cùi dầy có màu vàng như mật ong, khi nhấm nháp còn thấy dẻo, dính ở răng thì đó chính là loài cọ nếp quý.
Ngoài cọ ỏm, người dân trung du còn có món xôi cọ cũng nhớ nhung không kém. Ai đi xa quê mà không nhớ đến trầm lòng những chiều thả trâu trên đồi cọ, lúc nhọ mặt người đánh trâu về được hít hà món xôi cọ thơm phức, ấm nồng tình thương của bà, của mẹ. Về một đôi ngày vào mùa cọ, sáng trước khi đi mẹ dậy sớm làm xôi: ăn đi con, của quê mình chẳng nơi nào có đâu con ạ…
Xôi cọ cũng làm từ cọ ỏm, nhưng sau khi cọ ỏm chín, ta dùng ngón tay tách nhẹ nhàng từng phần thịt vàng óng của cọ. Thịt cọ ấy đem trộn đều với gạo nếp hương, xóc chút muối rồi cho vào chõ xôi, đun nhỏ lửa, đồ chín. Khi xôi chín, trộn thêm hành mỡ đã phi thơm vào khiến cho món xôi cọ càng hấp dẫn.
Xôi cọ chấm với muối vừng, đưa nhẹ vào lưỡi cũng đủ thấy mê ly. Hương rừng, hương đồng quyện thắm, giao hòa tinh tế trong tình người Phú Thọ thân thương, thuần hậu của núi đồi trung du…
2. Bưởi Đoan Hùng
Nhắc đến những sản vật của vùng quê trung du Phú Thọ, ắt hẳn nhiều người nghĩ ngay đến loại trái cây đặc biệt này của vùng đất ngã ba sông: bưởi Đoan Hùng. Bưởi Đoan Hùng từ xưa đến nay luôn được biết đến không chỉ ở Phú Thọ mà tiếng thơm đã lan khắp muôn nơi, so với những giống bưởi nổi tiếng khác như bưởi Diễn, bưởi Năm Roi cũng không thua kém chút nào.
Bưởi Đoan Hùng là loại cây trồng lâu năm, có quả hình cầu dẹt, quả chưa đầy 1 kg, chín màu vàng sáng, vỏ hơi héo, cùi mỏng, múi ráo, tôm mọng nước, màu trắng ngà, đặc trưng bởi hương vị thơm, ngon, ngọt, mát. Giống bưởi ở đây còn quý ở chỗ, có thể bảo quản được vài tháng đến nửa năm, khi bổ ra, ăn vẫn ngọt, ngon như thường! Giống bưởi nối tiếng này đã được bảo hộ tên gọi xuất xứ và được Nhà nước bảo hộ vô thời hạn tại quyết định số 73/QĐ-SHTT.
Bưởi Đoan Hùng cũng như bao nhiêu đặc sản khác, chỉ có đất Đoan Hùng mới cho những trái bưởi thơm ngon được, và trên đất Đoan Hùng cũng chỉ có 2 vùng mà ở đó bưởi trở nên thơm ngon nhất, đó là bưởi Chí Đám và bưởi Bằng Luân.
Bưởi Sửu Chí Đám phát triển phù hợp trên đất phù sa sông Lô, sông Chảy. Về nguồn gốc, giống bưởi này được nhân dân xã Chí Đám nhân ra từ cây bưởi ngon của nhà lão nông có tên là Sửu cách đây trên 200 năm. Từ đó tên ông được đặt cho giống bưởi. Bưởi Sửu sau 5 năm trồng cho quả có chất lượng tốt, cây 15 tuổi có năng suất từ 100 – 150 quả, bảo quản sau 5 – 6 tháng quả giữ được chất lượng tốt.
Bưởi Bằng Luân có cách đây 200 đến 300 năm là giống có nhiều nhất ở Đoan Hùng, hầu hết các xã trong huyện, đặc biệt là Bằng Luân và Quế Lâm đều trồng giống bưởi này.Bưởi Bằng Luân có dạng lá nhỏ, quả nhỏ có hình cầu dẹt hoặc dạng hình lá to, quả to, tròn đều. Khi chín có màu vàng rơm, màu thịt quả trắng, trục quả đặc, dễ tách múi, tép mềm mọng nước có màu trắng xanh, ngọt đậm, vị thơm.
Có lẽ làm nên cái hồn cho bưởi Đoan Hùng là hương bưởi, cái mùi thơm ngan ngát ấy thực khó diễn tả. Tết đến, xuân về trên bàn thờ tổ tiên mà có trái bưởi Đoan Hùng thì hương vị đặc biệt ấy sẽ làm cho không khí gia đình thêm ấm cúng. Bạn đừng quên chọn cho mình được một trái bưởi làng Chí, hay bưởi Sửu vào mùa hè để thưởng thức vị ngọt lịm, tan nơi đầu lưỡi và thấm cái mát đến tận ruột gan, da thịt.
3. Thịt chua Thanh Sơn
Nhắc đến Đặc sản vùng đất Thanh Sơn – Phú Thọ chắc chắn người ta nhắc đến ngay món Thịt chua rất riêng ở đây. Với hương vị và cách chế biến độc đáo riêng có của mình, thịt chua Thanh Sơn, đặc biệt là thịt chua vùng Phú Hà đã trở nên nổi tiếng không chỉ trên mảnh đất Phú Thọ mà dần trở thành đặc sản của cả nước.

Thịt chua có cách làm khá đơn giản nhưng để có một lọ thịt chua hấp dẫn và đạt yêu cầu lại là cả một nghệ thuật, và nó thể hiện qua sự chọn lọc kỹ càng để có các nguyên liệu tốt nhất cũng như quy trình thực hiện chính xác, nghiêm ngặt.
Để có được món thịt chua hấp dẫn người ta dùng thịt ba chỉ, thịt mông sấn, thịt nạc vai, nạc thăn đã được sơ chế sạch từ loại lợn lửng, một loại lợn địa phương được nuôi thả rông một năm chỉ đạt tới 15- 17 kg, có thịt săn chắc và thơm ngon, ít nước. Thịt được thái thành từng miếng thật mỏng, to hay nhỏ tùy thuộc sở thích, tuy nhiên miếng thịt vừa vặn trông sẽ ngon mắt hơn.
Thịt sau khi đã được làm sạch, thái miếng ướp một chút muối gia vị, thịt được nướng chín bằng than hoa trước khi làm, đảm bảo độ thơm ngon, vệ sinh an toàn thực phẩm. Sau đó cho trộn đều với thính sao cho bột thính bám thật đều trên bề mặt các miếng thịt. Thính được làm từ hỗn hợp ngô, gạo, đậu xanh, đỗ tương rang vàng xay nhỏ. Bí quyết tạo nên thành công cho món thịt chua chính là ở khâu rang thính. Thính rang phải đảm bảo yêu cầu chín kỹ, dậy thơm, vàng và không được để cháy.
Sau khi được trộn đều với thính, thịt được cho vào ống bương, ống tre để chứa đựng (tuy nhiên, hiện nay để tiện cho thương mại hóa sản phẩm người sản xuất thường dùng lọ nhựa). Lót lá ổi xuống dưới dụng cụ chứa đựng thành một hai lớp, lèn thật chặt thịt vào trong và phủ vài lớp lá ổi lên lớp thịt trên bề mặt dụng cụ chứa đựng, nén chặt bằng một vài nẹp tre gài chéo.
Khi làm xong người ta thường treo lên hoặc bảo quản ở những nơi cao ráo, thoáng đãng. Thời gian đảm bảo cho thịt lên men và dùng được là từ 04 – 05 ngày vào mùa hè, từ 05 – 07 ngày vào mùa đông.
Thịt để lên men có vị chua thơm ngon tự nhiên, không hề có chất bảo quản, không cho chất tạo men, 100% lên men chua chín tự nhiên.
Khi ăn miếng thịt khô, tơi, chua, ngọt, thơm ngậy vừa miệng. Khi ăn thịt chua người ta thường ăn kèm với các loại lá như: lá sung, lá ổi, lá mơ, lá đinh , rau thơm .v.v… chấm kèm với tương ớt thêm chút hạt tiêu… thì mới cảm nhận được hết hương vị khá độc đáo, mới lạ từ món ăn đem lại.
4.Thịt chó Việt Trì
Mới nghe cái tên loại Đặc sản này, nhiều người chắc vừa lạ vừa buồn cười. Ở đâu chả có thịt chó, sao lại có thể là đặc sản riêng của một vùng nào đó được chứ? Nhưng cứ thử một lần rồi bạn sẽ thấy, Thịt chó Việt Trì rất khác, rất xứng đáng với cái tên Đặc sản Phú Thọ của nó.

Cũng vẫn là bảy món đặc trưng như mọi nơi nhưng thịt chó Việt Trì lại có sức hấp dẫn rất riêng bởi hương vị đậm đà và khả năng chế biến đạt đến độ chuyên nghiệp. Chọn nguyên liệu được coi là khâu mấu chốt quyết định, không sử dụng những loại chó nuôi tăng trọng là đặc điểm quan trọng của thịt chó Việt Trì, đặc biệt chó nuôi gầm nhà sàn của các vùng dân tộc miền núi đã được trưng dụng và được thực khách sành ăn rất ưa chuộng, kế đến là khâu chế biến được coi là bí quyết gia truyền… Với cảm nhận của người thưởng thức, có thể đưa ra một vài nhận xét như sau: Thịt mềm, thơm, không sẫm màu như một số vùng khác. Đặc biệt những món như dồi, món nướng không bị khô. Món chân chó tẩm hấp lại mang đến một dư vị đậm đà khó tả với màu vàng ngậy và độ mềm, thơm vừa tới. Món xương hầm đu đủ mang đến một cảm nhận khác về sản vật vùng trung du miền núi…
Người Việt Trì tự hào về thú ẩm thực rất dân dã của đất mình và chắc chắn đến Việt Trì một lần bạn sẽ được những tấm lòng hiếu khách khoản đãi món ngon này. Những cửa hàng này đều đã có trên dưới chục năm nay nhưng vẫn mang vẻ bình dị, dân dã vốn có bởi theo những chủ cửa hàng ở đây thì phòng ốc bóng nhoáng, bàn ghế sang trọng sẽ không còn là thịt chó Việt Trì.
Thịt chó Việt Trì với những “thương hiệu” nổi tiếng như: Đồng Quê, Thanh Bình, A Hoàn, … khách hàng ngày một đông, cẩu quán cũng nô nức khai trương. Thịt chó không chỉ là món ăn dân giã nữa mà đã leo lên hàng đặc sản được “Vua biết mặt, chúa biết tên”. Thịt chó Việt Trì đã vượt qua khỏi cầu Việt Trì tiến về xuôi, từ Vĩnh Yên đến Hà Nội và còn nhiều nơi khác đã nhiều nơi treo biển “ Thịt chó Việt Trì”.
Mỗi quán có bí quyết riêng, nhưng theo chủ quán thịt chó T cho biết “ bí quyết” của mình: Đầu tiên là cứ phải lựa “nhất đốm, nhì khoang, tam vàng, tứ vện”. Bọn em phải lựa kỹ từng con, chó tơ đặt các thợ chuyên nghiệp, chứ chó đánh bả của mấy tay nghiện hút cho cũng không lấy, dùng nó mất uy tín ngay.
Theo như Đông y thì thịt chó vị mặn, chua, tính nóng, không độc; có tác dụng ôn bổ tỳ thận, trừ hàn, trợ dương, yên ngũ tạng. Cẩu thận vị mặn, tính đại nhiệt, có tác dụng tráng dương, ích tinh, dùng chữa thận dương suy nhược, liệt dương, di tinh, lưng gối mềm yếu … cho nên mỗi lần đi ăn thịt chó là ta ăn hộ cho …chị em ở nhà.
5. Bánh tẻ mật Đào Xá - Thanh Thủy
Mộc mạc như chính cái tên gọi, bánh tẻ mật được làm từ mật mía và bột gạo tẻ nhưng lại có một hương vị rất đặc biệt. Muốn học làm bánh chẳng khó vì loại bánh này không hề cầu kỳ chút nào, chỉ cần để tâm là có thể làm được.
Ở xã Đào Xá huyện Thanh Thủy năm nào cũng vậy cứ đến ngày Hội voi 28 tháng giêng âm lịch là nhân dân ở đây lại làm đủ các thứ bánh ngon mang đậm đà bản sắc quê hương để cúng tổ tiên và thờ Thành Hoàng làng. Bánh tẻ mật là một trong các thứ bánh ở đây đã để lại nhiều ấn tượng mới lạ, sâu sắc nhất cho nhiều khách về dự hội.
Không rõ bánh tẻ mật ở Đào Xá có từ bao giờ chỉ biết là đối với người dân ở đây loại bánh này đã trở nên rất quen và là thứ bánh không thể thiếu trong mâm cỗ thờ ở đình trong ngày hội làng. Ngoài xôi, chè, gà, hoa quả,… trêm mâm cỗ thờ bao giờ cũng có hai đĩa bánh tẻ mật để dâng cúng Thành Hoàng cầu mong cho mưa thuận gió hòa, bốn mùa ngô lúa tốt tươi, dân làng hòa thuận, đời sống ấm no hạnh phúc. Đây có lẽ cũng là một nét văn hóa rất riêng của Ẩm thực Phú Thọ
6. Hồng Hạc Trì
Với hương vị đặc biệt, thơm ngon mà thiên nhiên ban tặng, trái hồng Hạc Trì vốn, là niềm tự hào của người dân Đất Tổ nơi thành phố Ngã ba sông, từ lâu đã trở thành món đặc sản được nhiều người gần xa biết đến đặc biệt mỗi dịp Trung thu về.
.jpg)
Hồng Hạc Trì có nguồn gốc ở xã Bạch Hạc (nay là phường Bạch Hạc, thành phố Việt Trì, Phú Thọ). Loại quả này còn được gọi là hồng Bạch Hạc. Đây là giống quả quý hiếm và là một trong những loại quả ngày xưa đem cung tiến các vua Hùng. Ngày nay, loại quả này đã có thương hiệu được cả nước biết đến.
Hồng Hạc Trì đặc biệt không có hạt, dáng quả thuôn dài, chia bốn. Khi chín, quả có màu vàng tươi, thịt vàng sậm, ăn giòn, ngọt dịu, thơm mát. Hương vị đó của loại hồng này rất đặc biệt mà các loại khác khó sánh được. Hồng chín và được thu hoạch vào dúng dịp tết trung thu.
Những người bán hồng cho biết, đây là loại hồng ngâm, vì vậy, sau khi hái về phải để khoảng 1 ngày cho hết nhựa sau đó mới đem ngâm. Nếu đem ngâm ngay thì quả hồng sẽ bị ủng chứ ăn không được giòn và ngon. Nước ngâm hồng phải là nước sạch, đặc biệt là sử dụng nước giếng đồi. Hồng được ngâm trong những chum vại sành to trong thời gian khoảng 3 ngày 3 đêm. Sau đó vớt ra để 1 ngày 1 đêm cho ráo nước là được. Giá của Hồng Hạc Trì năm nay dao động khoảng từ 35.000-40.000 đồng một kg.
Hồng Hạc Trì nói riêng và quả hồng nói chung đã trở thành món không thể thiếu trong mâm cỗ đêm rằm của mỗi người dân Việt. Vì thế, cứ mỗi dịp thu về, trong kí ức của tuổi thơ của nhiều người lại thổn thức trong nỗi nhớ đêm trăng, nhớ đèn ông sao nhớ hội múa lân và nhớ cả cái vị vị giòn giòn ngọt ngọt nơi đầu lưỡi khi nhâm nhi quả hồng./.
7. Cá
với sông Hồng, sông Lô cùng một hệ thống nhiều suối, ẩm thực Phú Thọ có những loại cá nước ngọt đặc sản, trong đó có những loại cá quý hiếm như cá Anh Vũ xưa chỉ có ở vùng ngã ba sông Bạch Hạc, Việt Trì. Đây là loại cá sống ở đáy sông, ăn rêu đá, suốt mùa xuân hè ẩn trong hang và chỉ sang mùa thu đông mới ra ngoài, thời phong kiến thường dùng tiến vua. Trên sông Lô, sông Thao còn đánh bắt được nhiều cá lăng, và tại Việt Trì, dọc bờ sông có rất nhiều quán sử dụng loại cá da trơn đánh bắt tại chỗ này để làm các món ăn như chả cá, lẩu cá,cá hấp, cá nướng. Tại vùng sông Thao huyện Thanh Ba có cá cháy, một loại cá có hai buồng trứng to và rất ngon.
8. Rêu Đá Thanh Sơn
Sang thu, tiết trời vùng cao chớm lạnh. Những mái nhà sàn xam xám của đồng bào Mường nhòe đi trong màu sương bàng bạc của núi rừng. Về trưa, nắng bắt đầu hồng dần trên những nương lúa, nương ngô, rồi đỏ ửng trên đôi má những cô gái xuống suối bắt rêu.
![[IMG]](http://monngonvietnam.vn/sites/default/files/users/4944/bai_viet/2011/11/09/reu-da-thanh-son-f987.jpg)
Hầu hết các xã Đồng Sơn, Thu Cúc, Thượng Cửu… mà tôi có dịp đặt chân tới đều coi rêu đá như một món rau sạch đặc biệt của vùng cao. Người miền xuôi lên đây, phải được đồng bào quý lắm mới có dịp thưởng thức. Muốn ăn rêu sạch, non phải chọn nơi nước suối chảy xiết, có nhiều tảng đá to (nơi rêu bám vào để phát triển). Đồng bào gọi là “bắt” rêu vì coi nó là một loại thực phẩm như cá hay cua suối. Rêu được “bắt” thành từng dây dài, tùy từng khúc suối sâu hay nông mà có màu xanh lục hay xanh non. Rêu được bỏ vào rổ, giặt qua nước suối nhằm loại bỏ cát hoặc chất bẩn, bỏ lên một tảng đá to, có mặt bằng phẳng rồi dùng một khúc gỗ to để đập. Sơ chế rêu cũng đòi hỏi phải có tính kiên nhẫn vì phải giặt và đập rêu tới vài lần mới sạch. Cả một rổ rêu đá lúc này chỉ còn đủ dùng trong một bữa. Màu rêu đá xanh đậm, sờ vào mềm và mát như lụa.
Rêu đã làm sạch được tẩm ướp gia vị. Đó là tỏi thái mỏng, muối, mì chính, cộng thêm hành và chút mỡ lợn rồi trộn đều, dùng lá đu đủ gói thành nhiều lớp buộc chặt lại. Thông thường món ăn này được làm vào buổi tối vì đó là lúc có mặt đông đủ mọi thành viên trong gia đình. Bên bếp lửa bập bùng, họ vừa nấu cơm, vừa vùi rêu vào than hồng. Lớp lá đu đủ bén lửa bốc lên mùi cay cay, thơm thơm.
Đợi đến khi những lá đu đủ bên ngoài chuyển thành màu đen, họ mới bóc từng lớp lá ra. Mùi tỏi và hành quyện với mùi nồng nồng của rêu đá tạo nên một hương vị rất riêng. Tôi nếm thử món ăn đặc biệt này. Rêu giờ đây giống như món tảo biển có vị ngầy ngậy, mềm mềm, ngon mà không ngấy.
Đến với vùng núi cao Thanh Sơn, nói tới ẩm thực truyền thống của đồng bào dân tộc, người ta thường nghĩ tới món thịt chua làm từ lợn lửng hay món cơm nếp nương thơm khắp cả gian nhà, mà ít ai nghĩ rằng món rêu đá - món rau bình dị nhưng cũng thật lạ chính là nét độc đáo, ít nơi có